Bảo lãnh dự thầu không đáp ứng đầy đủ cam kết theo quy định thì xử lý thế nào?

Sau khi mở thầu có 02 nhà thầu liên danh tham dự thầu, quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu của các nhà thầu Bên mời thầu nhận thấy thư bảo lãnh dự thầu của 01 nhà thầu liên danh đính kèm trên Hệ thống mạng đấu thầu Quốc gia không đáp ứng đủ các cam kết theo quy định tại Mẫu số 04B Chương IV của hồ sơ mời thầu (áp dụng đối với nhà thầu liên danh).

Từ nội dung nêu trên, Bên mời thầu đánh giá nhà thầu Liên danh này không đáp ứng tính hợp lệ của bảo lãnh dự thầu theo quy định tại Khoản 18.3 Mục 18 Chương I E-HSMT được duyệt do bảo lãnh dự thầu có kèm theo các điều kiện gây bất lợi cho Chủ đầu tư, Bên mời thầu (trong đó bao gồm việc không đáp ứng đủ các cam kết theo quy định tại Mẫu số 04B Chương IV).

Đối với tình huống này, Bên mời thầu có yêu cầu nhà thầu làm rõ về tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu hay không? Đồng thời, nhà thầu có được nộp bổ sung thư bảo lãnh dự thầu khác sau thời điểm đóng thầu hay không?

Mô tả

Đối với tình huống này, chuyên gia của chúng tôi xin trả lời như sau:

Đối với gói thầu đã phát hành hồ sơ mời thầu trước ngày 01/01/2024, việc tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu, căn cứ vào hồ sơ dự thầu đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ hồ sơ dự thầu của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.

Theo hướng dẫn tại Mục 1 Chương III Mẫu E-HSMT xây lắp ban hành kèm theo Thông tư số 08/2022/TT-BKHĐT ngày 31/5/2022 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, E-HSDT của nhà thầu được đánh giá là hợp lệ khi đáp ứng đầy đủ các nội dung bao gồm có bảo đảm dự thầu không vi phạm một trong các trường hợp quy định tại Mục 18.2 E-CDNT. Thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên, đóng dấu (nếu có) với giá trị bảo lãnh, thời hạn có hiệu lực và đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của E-HSMT. Thư bảo lãnh không được ký trước khi Bên mời thầu phát hành E-HSMT; không được kèm theo các điều kiện gây bất lợi cho Chủ đầu tư, Bên mời thầu (trong đó bao gồm việc không đáp ứng đủ các cam kết theo quy định tại Mẫu số 04A, Mẫu số 04B Chương IV). Trường hợp có sự sai khác giữa thông tin về bảo đảm dự thầu mà nhà thầu kê khai trên Hệ thống và thông tin trong file quét (scan) thư bảo lãnh đính kèm thì căn cứ vào thông tin trong file quét (scan) thư bảo lãnh dự thầu để đánh giá.

Đối với nội dung nêu trên, việc đánh giá E- HSDT (bao gồm đánh giá về thư bảo lãnh) được thực hiện theo quy định nêu trên và thuộc trách nhiệm của tổ chuyên gia, bên mời thầu.

Trên đây là câu trả lời theo quy định của pháp luật về đấu thầu năm 2013, chúng tôi sẽ hiệu chỉnh theo quy định theo pháp luật về đấu thầu 2023. Tuy nhiên, bạn có thể thấy, mỗi đáp án đều được tham chiếu theo các quy định pháp luật cụ thể, chính xác, chuyên nghiệp. Để có thêm thông tin hữu ích, xin mời bạn theo dõi Chuyên mục Tình huống Đấu thầu của chúng tôi!

Tình huống của bạn là gì? Hãy liên lạc với chúng tôi, chúng tôi sẽ giải đáp giúp bạn. Ngoài ra, nếu bạn cần tính pháp lý, chúng tôi sẽ hỗ trợ bạn xin hướng dẫn bằng Văn bản của Cục Quản lý Đấu thầu – Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời gian ngắn nhất!

Mọi thông tin xin liên hệ:

Ps: Tham gia Cộng đồng Đấu thầu Việt Nam dưới đây để chúng ta cùng thảo luận mọi vấn đề trong hoạt động đấu thầu, rất hân hạnh chào đón Bạn tham gia cùng chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn!